Kết quả dự án

Mô hình sử dụng năng lượng sinh học sản xuất điện phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại các trang trại chăn nuôi bò sữa

30 Tháng 03

- Phối hợp với trang trại nạo vét công trình khí sinh học HDPE cũ của trang trại dung tích 500m3. - Phối hợp với trang trại chèn lấp lại bạt phủ công trình khí sinh học HDPE dung tích 500m3. - Phối hợp với trang trại hàn lại các lỗ thủng và hoàn thiện để thu khí từ công trình khí sinh học HDPE dung tích 500m3. - Phối hợp với trang trại làm đường dẫn khí từ công trình khí sinh học đến khu vực lắp đặt máy phát điện và khu vực sinh hoạt Kết quả của hoạt động là sau quá trình cải tạo, sửa chữa hệ thống công trình khí sinh học tại trang trại chăn nuôi bò sữa Lỏi Tươi hoạt động trở lại; khả năng sinh khí và chất lượng khí tạo ra tốt.

CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG SINH HỌC BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐẾN NĂM 2020-2030 CHO CỘNG ĐỒNG CÁC NƯỚC ASEAN

16 Tháng 12

Dựa trên Thuật ngữ Năng lượng Sinh học Thống nhất của FAO (FAO, 2004), năng lượng sinh học có thể được định nghĩa là năng lượng thu được từ các nguồn sinh học và tái tạo (sinh khối); năng lượng sinh học có thể được tạo ra dưới dạng nhiệt hoặc chuyển hóa thành điện năng để phân phối. Sinh khối là vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật và động vật, và nó là một nguồn năng lượng tái tạo (IEA). Sinh khối cũng có thể được chuyển đổi thành nhiên liệu sinh học, là nguyên liệu di động để sử dụng trong sản xuất năng lượng sinh học. Nhiên liệu sinh học được định nghĩa là nguyên liệu để sản xuất năng lượng sinh học, được sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếp từ sinh khối. Nhiên liệu sinh học có thể ở dạng rắn (củi, than củi, viên nén gỗ, than bánh, vv) hoặc lỏng (cồn sinh học, dầu diesel sinh học).

Mô hình sử dụng lõi ngô để sấy nông sản và phân bón góp phần giảm nghèo cho các hộ nông dân tại Sơn La

11 Tháng 12

Hiện nay, việc khai thác và sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch ngày càng đắt đỏ, đồng thời thải ra môi trường nhiều loại khí thái độc hại, đặc biệt là CO2 nên sử dụng năng lượng bền vững là một vấn đề quan trọng, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển biền vững nên cần phải sử dụng tìm ra các nguồn năng lượng thay thế, thân thiện với môi trường. Lõi ngô thường rất ít được sử dụng, nhiều khi người nông dân đổ ra ven đường gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng lõi ngô làm nhiên liệu sấy nông sản còn hạn chế do cồng kềnh nên mất rất nhiều diện tích để làm kho cất trữ, gặp mưa, nắng phân huỷ rất nhanh làm tiêu hao sinh khối và sản sinh ra nhiều mùi hôi thối khó chịu. Ngoài ra, khi đốt trực tiếp lõi ngô có nhiệt lượng thấp, có nhiều tàn tro và khói bay vào buồng sấy làm đen, làm giảm chất lượng, mẫu mã sản phẩm. Hiện nay, nhờ công nghệ mới, lõi ngô đã được sử dụng làm nhiên liệu hóa khí để sấy nông sản và phụ phẩm là than biochar dung làm phân bón có hiệu quả cao. Biochar rất xốp có hàm lượng cacbon cố định cao, có tác dụng nâng cao khả năng hấp thu & trao đổi dinh dưỡng của đất, ổn định pH đất. Biochar khi được bón cho đất giúp cải tạo một số đặc tính vật lý của đất như độ xốp, sự phân bố cấp hạt, dung trọng đất, ẩm độ đất, khả năng giữ nước và thoát nước của đất. Đồng thời về lâu dài, biochar cung cấp thêm độ phì cho đất. Biochar được sản xuất thành phân bón nhờ tận dụng nguồn vật liệu hữu cơ có sẵn tại địa phương sẽ giảm chi phí phân bón hóa học từ 40 -50% giảm bớt ô nhiễm môi trường xung quanh và tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Mô hình sử dụng lõi ngô làm chất đốt phục vụ sấy nông sản và sinh hoạt cho các hộ nông dân tại tỉnh Hà giang

11 Tháng 12

Hà Giang là tỉnh cực bắc của Việt Nam, có điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa, trình độ dân trí thấp, vẫn tồn tại các hủ tục lạc hậu, đời sống của người dân vẫn ở mức thấp, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao. Ngô là cây trồng chính, chủ lực giúp tăng sản lượng lương thực và nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người nông dân tại Hà Giang với diện tích hàng năm trên 50.000 ha nhưng năng suất thấp (3,56 tấn/ha năm 2018) do điều kiện canh tác khó khăn, đất đai gieo trồng có độ dốc cao, kỹ thuật canh tác lạc hậu, đầu tư thâm canh thấp. Lượng lõi ngô sau thu hoạch hàng năng rất lớn (khoảng 48,0 nghìn tấn năm 2018) được người nông dân sử dụng để đun nấu thức ăn cho con người và vật nuôi nhưng việc sử dụng lõi ngô không hiệu quả, lớn hơn so với củi, chưa được coi là nhiên liệu chính. Chất đốt sử dụng phổ biến trong hộ gia đình là củi lấy từ rừng, sử dụng bằng các loại bếp truyền thống, lạc hậu. Trong khi nhu cầu sử dụng chất đốt ngày càng tăng thì diện tích rừng ngày càng thu hẹp nên người dân phải đi lấy củi càng xa nhà, gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày nên nhu cầu sử dụng chất đốt thân thiện với môi trường ngày càng cao. Quy trình kỹ thuật sản xuất chất đốt từ lõi ngô phù hợp với quy mô nông hộ và nhóm hộ, đạt công suất tối đa 1,8 tấn/ngày đã được chuyển giao cho các hộ nông dân tại xã Phong Quang, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang hoạt động hiệu quả, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Mô hình sử dụng lõi ngô làm chất đốt phục vụ sấy nông sản và sinh hoạt cho các hộ nông dân tại tỉnh Hà Giang tại xã Phong Quang, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã được xây dựng thành công có sự tham gia tự nguyện của 50 hộ nông dân, đã lắp đặt máy xử lý lõi ngô với công suất tối đa 1,8 tấn/ngày, tổ chức 01 lớp (20 người) đào tạo, chuyển giao thành công công nghệ sản xuất chất đốt từ lõi ngô cho người nông dân, tổ chức 01 buổi tham quan, đánh giá kết quả mô hình. Mô hình được triển khai đã góp phần nâng cao sự hiểu biết, kiến thức của người nông dân về năng lượng sinh khối, đặc biệt là việc sử dụng lõi ngô dư thừa sau thu hoạch hiệu quả, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm chi phí chất đốt, cải thiện đời sống của người dân. Người dân đã có xu hướng sử dụng hiệu quả chất đốt, góp phần giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí hàng ngày, bảo vệ sức khoẻ, nâng cao đời sống của người nông dân. Để khai thác và sử dụng lõi ngô một cách hiệu quả cần phải phát triển các công nghệ mới để tái chế lõi ngô, đào tạo tập huấn, nâng cao trình độ nhận thức của người nông dân về giá trị và cách sử dụng lõi ngô hiệu quả. Đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ, xây dựng các mô hình sử dụng lõi ngô hiệu quả.

Xây dựng mô hình quản lý chất thải chăn nuôi, sử dụng năng lượng sinh học tái tạo từ hệ thống khí sinh học trong sản xuất và chế biến chè tại Anh Sơn – Nghệ An

11 Tháng 12

Anh Sơn là một huyện miền núi thuộc miền Tây tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Đây là huyện được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An. Huyện nằm dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ và huyện vùng cao Quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông và Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương và cách thành phố Vinh 100 km về phía Tây Bắc. Huyện có hệ thống giao thông khá thuận lợi cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hoá. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh thương mại, dịch vụ và du lịch. Anh Sơn là huyện có nền kinh tế nông nghiệp tương đối phát triển so với các huyện khác trong tỉnh Nghệ An. Cuộc sống người dân nơi đây đang dần cải thiện nhờ định hướng phát triển những mô hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi nhờ phát huy tiềm năng tự nhiên phong phú của địa phương. Đối với chăn nuôi, chính quyền huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều Nghị quyết trong đó ưu tiên dành nguồn lực hỗ trợ phát triển chăn nuôi gắn liền với bảo vệ môi trường. Các tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng trong chăn nuôi để nâng cao năng suất chất lượng vật nuôi, cải thiện chất lượng môi trường sinh thái. Trong lĩnh vực trồng trọt, bên cạnh các cây trồng truyền thống như lúa, ngô, rau màu... huyện Anh Sơn đang tận dụng lợi thế của một vùng sản xuất chè lâu năm để dần nâng cao giá trị kinh tế của cây chè thông qua việc đầu tư sản xuất các giống chè cao cấp, có chất lượng cao như trà matcha, chè móc câu. Theo thống kê Anh Sơn là một trong những huyện trọng điểm trồng chè của tỉnh Nghệ An với diện tích trên 2.500 ha, trong đó 1.700 ha đã cho thu hoạch, tập trung nhiều ở các xã: Hùng Sơn, Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn, Long Sơn, Phúc Sơn. Hàng năm sản lượng chè búp tươi đạt 17-20 nghìn tấn. Hiện nay trong quá trình chế biến chè tại Anh Sơn, Nghệ An, các hộ nông dân thường sử dụng năng lượng cho quá trình sấy và vật liệu cấp nhiệt cho quá trình sấy, sao chè là dầu DO, than đá, củi. Việc sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch, củi gỗ (chủ yếu được khai thác từ Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An) nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ là mối nguy hại tiềm ẩn đối với an ninh năng lượng quốc gia nói chung và ảnh hưởng xấu Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Tại Anh Sơn, công nghệ biogas cũng được khuyến khích áp dụng trong quản lý chất thải chăn nuôi và thực tế đã mang lại nhiều lợi ích cho các hộ chăn nuôi như: xử lý chất thải chăn nuôi, cải thiện môi trường chăn nuôi, tạo ra nguồn nhiên liệu sinh học sạch, bã thải sau biogas có thể sử dụng làm nguồn phân bón hữu cơ bón cho cây trồng. Thực tế cho thấy người dân mới chỉ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo này để phục vụ đun nấu, thắp sáng, tuy nhiên nếu sử dụng nguồn năng lượng này cho quá trình sấy chè sẽ rất có ý nghĩa tích cực trong việc hạn chế sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch, hạn chế sử dụng củi, hạn chế phá rừng để bảo vệ Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An , mặt khác sẽ tạo ra sản phẩm chè có chất lượng tốt hơn do kiểm soát được nhiệt độ trong quá trình sấy. Mục tiêu của dự án: - Xây dựng được mô hình sử dụng năng lượng sinh học từ công trình khí sinh học để sấy chè tại tại Anh Sơn – Nghệ An - Xử lý và tái sử dụng bã thải sau biogas làm nguồn phân bón hữu cơ sạch cung cấp cho cây chè tại Anh Sơn – Nghệ An.